Du lịch Sầm Sơn – thăm quan Lam Sơn địa linh nhân kiệt

Du lịch Sầm Sơn - thăm quan Lam Sơn địa linh nhân kiệt
  Hơn sáu trăm năm trước, khu rừng Lam Sơn là căn cứ của nghĩa quân dưới sự chỉ huy của người anh hùng Lê Lợi. Trong mười năm (1418-1427) nghĩa quân Lam Sơn cùng quân dân cả nước dẹp xong giặc Minh, đất nước sạch bóng thù. Tháng 4 năm 1428 Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Đô (Thăng Long- Hà Nội), lấy niên hiệu Thuận Thiên, đặt tên nước là Đại Việt, mở ra một vương triều thịnh trị, hưng vượng bậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam- vương triều Hậu Lê kéo dài 360 năm. Cùng du lịch Sầm Sơn năm 2014 về Lam Sơn cách thành phố Thanh Hoá 50km về phía Tây bắc. Từ thành phố Thanh Hoá đi theo đường bộ ô tô đi lại dễ dàng qua cầu Mục Sơn là tới đất Lam Sơn, hoặc theo đường thuỷ ngược sông Mã, rẽ vào sông Chu lên tới Lam Sơn.
“Lam Sơn chỉ xích thiên Nam vọng Vạn cổ nguy nguy sáng nghiệp công” Nghĩa là:…

“Lam Sơn chỉ xích thiên Nam vọng

 Vạn cổ nguy nguy sáng nghiệp công”

Nghĩa là:

 “Núi Lam Sơn gang tấc là danh sơn của nước Nam

 Công đức gây dựng cơ nghiệp vời vợi trải muôn đời”

 Đó là câu thơ do Hàn lâm viện Dương Trực Nguyên sáng tác xướng học cùng vua Lê Thánh Tông trong dịp về thăm Lam Sơn (năm 1492). Ca ngợi đất tổ nhà Lê sinh nghiệp đế, dựng nền độc lập. Trong thiên anh hùng ca chống giặc ngoại xâm của dân tộc – Lam Sơn mảnh đất thiêng, quê hương của người anh hùng dân tộc Lê Lợi được ghi vào lịch sử như một dấu son chói lọi. Lam Sơn là căn cứ đầu tiên của một cuộc khởi nghĩa lớn chống lại ách đô hộ của bọn phong kiến nhà Minh kéo dài  mười năm (1418 -1427), giành thắng lợi, mở ra thời kỳ độc lập, thịnh trị lâu dài cho nước nhà.

 Theo công ty du lịch Khát Vọng Việt, Lam Sơn xưa có núi rừng trùng điệp, nối liền một dải với rừng núi hiểm trở miền tây Thanh Hoá, bao gồm các huyện Ngọc Lặc, Cẩm Thuỷ, Như Xuân, Như Thanh, Bá thước, Thường Xuân, Quan Hoá, Mường Lát, Quan Sơn, sang tận nước Lào, phía tây bắc Lam Sơn xưa kia là những cánh rừng kéo xuống giáp Phủ Lỵ Thọ Xuân. Lam Sơn được bao bọc 4 phía bởi rừng núi bao la, hiểm trở – Thuở xưa khi muốn vào Lam Sơn phải lần theo những con đường mòn nhỏ hẹp, xuyên rừng. Đường tỉnh lộ số 15 chạy qua Lam Sơn lên miền tây Thanh Hoá để sang Lào là con đường mới làm trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Xa xa có dãy Pù Rinh cao ngất với những cánh rừng già bạt ngàn, trải dài theo hướng tây bắc. Rừng ở đây gồm nhiều tầng, nhiều lớp xen kẽ, dày đặc như chiếc áo giáp khổng lồ che chở cho căn cứ Lam Sơn. Dưới chân dãy Pù Rinh là những cánh rừng thưa, đồi núi nhấp nhô như bát úp, những dòng suối chằng chịt tưới mát cho những cánh đồng nhỏ hẹp nằm xen kẽ giữa các triền núi, trong các thung lũng, rừng ở đây có nhiều đặc sản quý.
Lam Sơn có sông Chu (tên cũ là Lương Giang còn gọi là sông Lương) chảy qua địa phận huyện Thọ Xuân theo hướng tây nam rồi lượn vòng sang phía đông ngay trước Lam Sơn họp lưu với sông Mã ở ngã Ba Bông (thuộc địa phận giáp danh năm huyện: Thiệu Hoá, Yên Định, Đông Sơn, Hoằng Hoá, Hà Trung) rồi theo nhiều nhánh đổ ra biển, lượn qua rất nhiều danh lam thắng cảnh. Sông Chu có lưu lượng nước hàng năm rất lớn, tiếp nước của sông Đại, sông Bằng, sông Khao từ huyện Thường Xuân chảy về, sông Âm từ huyện Ngọc Lặc chảy xuống.

                                                                                    Sông Chu – Lam Sơn Sầm Sơn Thanh HóaNếu núi rừng là tấm áo giáp che chở cho nghĩa quân Lam Sơn thì sông ngòi ở đây là mạch máu giao thông quan trọng của nghĩa quân, nối liền một dải đồng bằng phì nhiêu vùng châu thổ sông Mã, sông Chu với miền núi  giàu có của Thanh Hoá.

Xét trên địa bàn rộng lớn của miền núi Thanh Hoá, Lam Sơn giữ vị trí cửa ngõ. Tháng 2 năm 1416 rừng núi Lam Sơn đã chứng kiến sự kiện lịch sử vô cùng trọng đại đó là hội thề Lũng Nhai gồm 19 người anh hùng  nghĩa sĩ  đầu tiên nguyện cùng nhau xả thân vì nước.

Trong hàng ngũ nghĩa quân Lam Sơn có nhiều chiến sĩ là người quanh vùng Lam Sơn và các địa phương khác ở Thanh Hoá, nhiều người sau này trở thành những tướng lĩnh suất sắc, sử sách còn ghi, nhân dân còn nhớ. Gia đình phụ đạo Lê Lai ở thôn Dương Tú (xã Kiên Thọ, Ngọc Lặc) gồm năm cha con: Lê Lai, Lê Lãm, Lê Lô, Lê Lộ, Lê Lâm đều quên mình vì nước. Lê Lai đã nêu tấm gương sáng ngời cứu Lê Lợi và nghĩa quân thoát khỏi vòng vây của giặc ở căn cứ Chí Linh  năm 1418.

Thôn Bỉ Ngũ ở ngay Lam Sơn có Lê Sát một tướng tài của nghĩa quân Lam Sơn. Ông lập được nhiều chiến công xuất sắc, đánh nhiều trận ở Khả Lưu (huyện Anh Sơn, Nghệ An), làng Đầm (xã Xuân Thiên, Thọ Xuân) có hai cha con Trần Lựu và Trần Lãm. Trần Lựu là tướng có công lớn giải phóng miền biên giới Khâu Ôn (Lạng Sơn) tháng 7 năm 1427 chém đầu tướng giặc Liễu Thăng chỉ huy đạo quân cứu viện của giặc.  Làng Thuý Lôi có 3 anh em Đinh Lễ, Đinh Đồ, Đinh Liệt đều là những tướng tài giỏi. Đinh Lễ có công trong trận Khả Lưu (xã Vĩnh Sơn, Kỳ Anh, Nghệ An) năm 1424 và hạ thành Diễn Châu (Nghệ An) năm 1425, Chiến thắng Tất Động,Chúc Động (Chương Mỹ, Hà Tây) năm 1426. Ngay ở làng Giao Xá phía Bắc Lam Sơn có Nguyễn Lý là người tham gia nghĩa quân từ ngày đầu có mặt trong hội thề Lũng Nhai. Cũng tại làng này còn có Lê Thế Vĩ, Lê Bính, Lê Khảo là những người có công trong khởi nghĩa Lam Sơn. Thôn Đoán Lương (xã Xuân Lam) có Lê Sơ, Lê Nhị, Sách Mục Sơn (xã Xuân Bái) có Lê Văn An, Lê Văn Biến, Nguyễn Thận, Lê Thiệt, Lê Lãnh, Lê Đạt đều là những danh tướng lưu truyền sử sách. Đất Lam Sơn còn là nơi hội tụ hào kiệt khắp nơi trong tỉnh Thanh Hoá và các nơi trong nước tìm về dưới cờ của Bình Định vương Lê Lợi. Từ năm 1418 đến năm 1424 đất Lam Sơn cùng với rừng núi Thanh Hoá đã diễn ra nhiều cuộc chiến đấu ác liệt giữa nghĩa quân Lam Sơn với giặc Minh. Đồng bào các dân tộc ở Lam Sơn là những chiến sĩ đầu tiên kiên cường nhóm lên ngọn lửa khởi nghĩa để sau này lan rộng ra toàn quốc, giành thắng lợi cuối cùng cho dân tộc Việt Nam ở thế kỷ XV.

Trong nền văn học nước nhà đã có biết bao lời thật đẹp để ca ngợi mảnh đất lịch sử và con người Lam Sơn.

 Đương lúc lòng người đã nguội, nhục nước chưa rửa

     Duy vua khởi nghĩa ở núi Lam, thế mạnh hùng hùng như lửa

     Hào kiệt theo tựa mây vần, hiệu lệnh ra như sấm vỡ.

(Phú núi Chí Linh- Nguyễn Mộng Tuân)

và Nguyễn Trãi ví Lam Sơn như nơi rồng thiêng nổi dậy, như ngọn giáo nhà trời, quét sạch lũ giặc ngoại xâm.

  Rồng thần nổi dậy, bay trên núi Lam

     Giáo trời chỉ lên, quét thanh ải Bắc.

(Phú núi Chí Linh – Nguyễn Trãi)

Lam Kinh trong sử sách:

Năm 1427, cuộc khởi nghãi Lam Sơn giành toàn thắng, triều đại nhà Lê được thiết lập. Cũng như thời Lý, Trần trước đây Lê Lợi và các vua kế nghiệp đã nghĩ ngay đến việc xây dựng quê hương đất Lam Sơn lịch sử thành một “kinh”. Cái tên Lam Kinh ra đời từ đó.

Lam Kinh có lăng miếu, thờ các vua và hoàng hậu nhà Lê; Một số vua và hoàng hậu khi mất được đưa về đây an táng, Lam Kinh cũng là hành điện đế vua và các triều thần nhà Lê mỗi khi tuần du về nghỉ ngơi. Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí ghi: “Thời Thuận Thiên lấy đất này làm Tây Kinh cũng gọi là Lam Kinh, xây dựng cung điện trông ra sông. Đằng sau cung điện có hồ lớn, giống hồ Kim Ngưu, các khe núi đổ vào hồ này. Lại có khe nhỏ bắt nguồn từ hồ chảy qua trước điện ôm vòng lại như hình vòng cung, bắc cầu lợp ngói ở trên khe. Đi qua cầu mới tới cung điện…” Sách Đại Nam nhất thống chí, Đại Việt sử ký toàn thư và Việt sử thông giám cương mục đều ghi: “Năm 1433 dựng điện 5 Năm 1433 dựng điện Lam Kinh” tức là sau khi Lê Lợi mất, được đưa từ Đông Đô (Hà Nội) về đây an táng, cũng trong năm ấy, vị vua kế vị Lê Thái Tông ra chiếu dựng miếu điện Lam Kinh, Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí ghi chép tỷ mỷ hơn: “Điện Lam Kinh đằng sau gối vào miếu, trước mặt trông ra sông, bốn bên nước non xanh biếc, rừng rậm um tùm. Vĩnh Lăng của Lê Thái Tổ, Thiệu Lăng (?) của Lê Thái Tông và các lăng của nhà Lê đều ở đây cả. Lăng  nào cũng có bia. Sau điện lấy hồ làm “não” giống như hồ Kim Ngưu… Lại có lạch nước nhỏ chảy từ bên tay phải trước điện ôm vòng lại như cánh cung. Trên lạch có cầu giống như Bạch Kiều ở Giang Đình vạn Thọ Đông Kinh, đi qua cầu mới tới điện. Nền điện rất cao, hai bên cảnh mở rộng, dưới sân điện có làn nước phẳng giống như trước điện nhà vua coi chầu. Ngoài cửa Nghi môn có hai con chó ngao bằng đá tục truyền là rất thiêng. Điện làm ba ngôi liền nhau, kiểu chữ công (I) mẫu mực theo đúng như kiểu ở Kinh sư, theo từng bậc mà lên, rồi từ đó trông xuống thì thấy núi khe hai bên tả hữu, cái nọ cái kia vòng quanh thật là một chỗ đẹp để xây dựng cơ nghiệp”.

Lê Lợi là người rất quan tâm đến Lam Kinh, ngay sau khi đất nước được giải phóng “tháng 11 năm 1429 Vua về Tây Đô bái yết Sơn Lăng…”. Như vây, có thể ngay khi Lê Lợi đang ở ngôi, Lam Kinh đã có những công trình được xây dựng bước đầu, còn năm 1433 khi Lê Lợi mất có lẽ là lần xây dựng điện chính hoặc trùng tu mở rộng điện chính với quy mô lớn hơn. Năm 1434 Lam Kinh bị hoả hoạn. Sử cũ không ghi rõ lần hoả tai này làm thiệt hại những công trình nào. Mười năm sau: Tháng 9 năm 1448 vua Lê Nhân Tông, vị vua thứ ba nhà Lê xuống chiếu cho thái vị Lê Khả, các địa phương dựng lại miếu điện ở Lam Kinh; chưa đầy một năm sau, tháng 2 năm 1449 việc xây dựng hoàn thành và được báo cáo về triều đình.

Đến năm 1456 trong dịp hành  lễ ở Lam Kinh, vua Lê Nhân Tông và các triều thần đặt tên cho các điện ở đây “Chính điện gọi là điện Quang Đức, Điện Sùng Hiếu, hậu điện gọi là điện Diên Thánh” và “sai quân phủ Thanh Hoá  làm tẩm cung thờ Thái Hoàng Thái  Phi ở sau điện Lăng Lam Sơn”. Cứ mỗi năm một lần vua nhà Lê và các triều thần lại vào Lam Kinh hành lễ để tưởng nhớ công đức khai sáng cơ nghiệp của vua Lê Thái Tổ. Như vậy, suốt nhiều thế kỷ XV, XVI, XVII khu điện miếu Lam Kinh luôn có người trông nom và tu bổ nhiều lần. Trong các buổi tế lễ như vậy Lam Kinh có một chiếc trống đồng được cung kính treo ở chính điện, là nhạc khí trong buổi lễ, Sử cũ ghi đây là vật thiêng đã được vua Lê Thái Tổ dùng trong chiến trận. Trong suốt thời hậu Lê, Lam Kinh hoàn toàn được coi trọng, là vùng đất mang giá trị tinh thần lịch sử lớn lao (chống giặc Minh) được con người tạo lập nên những công trình kiến trúc, điêu khắc kỳ vĩ. Đã mấy thế kỷ đất này  là niềm tự  hào của cả nước.

      Hai mốt Lê Lai, hai hai Lê Lợi.

Câu ca ấy được các thế hệ người Việt Nam  nhắc nhau ghi nhớ, ngày gỗ Lê Lai trước ngày gỗ Lê Lợi một ngày, theo di huấn của vua Lê Thái Tổ  (21,22 tháng 8 âm lịch).

Lam Kinh hiện tại và  tương lai:

Lam Kinh là nơi đắc địa, một không gian hội tụ đủ yếu tố thiên nhiên: Phong – Thuỷ, cho việc xây dựng nơi đây trở thành một “Kinh”. Mộ Lê Thái Tổ và một số vị vua, hoàng hậu kế tiếp được an táng tại mảnh đất thiêng Lam Sơn với ý niệm truyền thống tiếp nhận khí thiêng của sông núi, của trời đất tạo nguồn sức mạnh tâm linh cho sự trường tồn của triều đại nhà Lê.

Nhìn tổng thể các lăng mộ vua và hoàng hậu táng ở Lam Kinh cũng như các công trình cung điện nơi đây đều chọn vị trí trên đồi nhìn xuống sông nước uốn lượn với ý niệm làm mát “long mạch”. Phía sau các công trình, đặc biệt là mộ, đầu nhất thiết phải gối vào núi, núi Dầu là  “hậu chẩm” của ngôi mộ Lê Thái Tổ. Hai bên tả, hữu có gò núi tựa tay ngai, voi chầu, hổ phục. Bên tả sông Chu núi Mục như bức bình phong (án sa) che chắn bảo vệ ở phía tây. Dòng sông Chu là nguồn nước quanh năm đổ vào con sông nhỏ chảy vòng trước điện.

Nhiều thế kỷ đã qua, những công trình kiến trúc điêu khắc ở Lam Kinh đã bị huỷ hoại nặng nề. Những đợt thăm dò, khai quật vào các năm 1974, 1978, 1997 và năm 1999 đã làm phong phú sự hiểu biết của chúng ta về Lam Kinh.

Vượt qua sông Chu bằng cây cầu hiện đại, chúng ta đã đặt chân lên đất Lam Sơn. Con đường 15A trải nhựa mở rộng trước mặt. Đền thờ Lê Lợi ở ngay cạnh đường. Đền được trùng tu sửa chữa thật bề thế khang trang. Tiền đường gồm 5 gian bằng gỗ lim có chạm trỗ các hoạ tiết phỏng theo hoa lá thời Lê – trung đường và hậu cung là công trình xưa (xây dựng năm 1936) cũng được sửa sang lại, trong đền có tượng Lê Lai, Nguyễn Trãi. Hậu cung có tượng đồng Lê Lợi nặng hàng tấn với dáng vẻ uy nghi trong trang phục của nhà vua ngồi trong long ngai, là tác phẩm tuyệt đẹp về hình ảnh vị  hoàng đế – người anh hùng dân tộc Lê Lợi. Qua đền, rẽ tay  trái về phía tây khoảng 400m là khu điện. Một chiếc cầu xi măng uốn cong bắc qua Khe Ngọc vừa được tái dựng thay cho cầu Bạch thời khởi dựng làm bằng gỗ có mái che.

      Nước sông Ngọc được cung cấp cho một đập nước nhân tạo chứa nước từ nhiều nguồn khe suối ở thượng nguồn chảy vào Tây Hồ Sông Ngọc uốn lượn trước điện Lam Kinh chảy qua các xã Xuân Lam, Xuân Thiên. Hồ Bán Nguyệt ở vị trí trước cổng chính điện chếch bên tả, giữa cầu và khu điện miếu. Có lẽ hồ này là nơi cung cấp nước cho mọi hoạt động của khu điện miếu Lam Kinh xưa kia, có được sửa sang ở các thời kỳ sau đó. Cách khoảng 90m về phía tây điện, là nhà bia Lê Thái Tổ (Vĩnh Lăng) theo trục Bắc – Nam.

    Khu điện miếu Lam Kinh xây theo đồ án hình chữ nhật, chiều dài 3,14m, chiều ngang 2,54m trên một sườn đồi thoai thoải. Phía sau điện cong uốn ra ngoài. Bốn bề của điện còn rõ nét vết thành bao bọc. Dấu vết nhiều đoạn thành còn rõ, dầy khoảng 1m, cao khoảng 1,2m, chân thành kè đá hộc, phía trong xây gạch vồ – Nghi môn nằm chính trục về phía nam của khu điện miếu. Kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy nghi môn thời Lê Sơ có vị trí hơi lui vào phía trong sân rồng, đến thời Lê Trung Hưng được xây lùi ra phía ngoài để sân rồng được nới rộng. Qua nghi môn tới sân rồng, một chiều 55m, một chiều 60m có lẽ xưa kia sân được lát gạch. Hai bên sân rồng còn nền của nhà tả vu, hữu vu, là nơi để các quan chuẩn bị cho việc hành lễ. Chính điện cao hơn sân rồng 2,2m. Một cửa lớn dẫn từ sân lên điện, cửa này dài 3,6m, rộng 4,5m chia 3 lối, ngăn cách bởi 4 lan can bậc, chạm hình rồng và hoa cúc  trên các khối đá nguyên (dày tới 0,4m, dài 4,5m). Lối đi giữa rộng 1,9m, mỗi lối hai bên rộng1,3m, lát bậc lên xuống bằng đá khối hình chữ nhật khá hoàn chỉnh, kích thước trung bình là 0,68m x 0,13m x 0,15m. Điện chính dài 48m x rộng 37m, bố cụ hình chữ công I, dấu vết còn lại là các hàng chân tảng và gạch nền. Toà tiền đường và hậu điện có diện tích bằng nhau, đều 9 gian, kích thước mỗi toà 37m x 16,3m.

Nền điện được lát gạch to bản theo hàng cắt chéo, gạch kích thước 0,47m x 0,17m, x 0,08m, cá biệt có loại rất lớn (0,47m x 0,75m x 0,08 m) nhiều viên ghi tên bằng chữ Hán địa phương sản xuất. Có nhiều loại ngói: ngói bàn, ngói mũi hài, ngói ống có trang trí hoa văn, ngói lưu ly (màu men vàng và xanh). Chính điện được bao quanh bằng hệ thống thoát nước nổi được xây bằng gạch vồ. Phải chăng chính điện gồm điện Quang Đức, Sùng Hiếu và Diên Thánh như sách toàn thư đã viết. Sau chính điện đường trục dẫn thẳng vào lớp kiến trúc thứ ba gần với  lăng Lê Lợi, gọi là hậu tẩm. Khu nhà này không kiến trúc theo chiều rộng mà phát triển theo chiều dài tới 135m theo hướng Đông – Tây với chín nền nhà mỗi nền dài 15m, rộng 12,5m gồm ba gian. Toàn bộ công trình tạo dựng theo hình cánh cung như ôm lấy chính điện, có lẽ sử dụng vào việc thờ các vua và hoàng hậu nhà Lê.Nếu như Lam Sơn là biểu tượng thần kỳ của mười năm chống giặc Minh, thì Lam Kinh là nơi ghi ơn trả nghĩa những người có công gìn giữ nền độc lập của nước ta thời ấy. Lam Kinh còn là nơi mộ phần của các vua và hoàng hậu nhà Lê. Nhiều người có tiếng tăm trong hàng trí thức nho học đã soạn những bài văn hay, kể rõ công đức của người đã mất. Sử sách xưa ghi có 8 vị vua đời Lê được chôn cất ở “rừng thiêng” phía bắc làng Lam Sơn, đó là: Lê Lợi (Lê Thái Tổ), Thái Tông, Nhân Tông,Thánh Tông, Hiến Tông, Túc Tông, trang Tông, và Trung Tông. Ngoài ra còn có lăng của hai bà hoàng: Ngô Thị Ngọc Dao (vợ vua Lê Thái Tông), Nguyễn Thị Ngọc  Huyên (vợ vua Lê Thánh Tông).

Nhìn trên tổng thể, toàn bộ lăng mộ ở Lam Kinh đều hướng vào khu điện miếu. Hiện nay bia và mộ của vua Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, Lê Trung Tông và Lê Trang Tông đã bị mất. Ở Lam Kinh chỉ còn 5 ngôi: Lê Lợi, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông và hoàng hậu Ngô Thị Ngọc Dao. Kết cấu các lăng mộ ở Lam Kinh nhìn chung giống nhau, gồm ba phần chính: Mộ – đường thần chạy chính giữa khu mộ – hai bên thần đạo có tượng quan  hầu và các con vật bằng đá đứng chầu – cách xa mộ có tấm bia đá đặt trên lưng rùa.

   – Lăng Lê Lợi (Lê Thái Tổ) còn gọi là Vĩnh Lăng nằm ở phía sau điện Lam Kinh, bên ngoài tường hậu của thành, dưới chân núi Dầu. Nếu như điện Lam Kinh được trải rộng trên địa bàn lớn với nhiều cấp, thì lăng Lê Lợi với bia Vĩnh Lăng ở vị tí bắt đầu và mộ Lê Lợi ở vị trí kết thúc của đồ án thiết kế. Bố cục chiều sâu như vậy tạo nên cảnh quan thâm nghiêm. Cách Vĩnh Lăng 200m về phía tây, phát hiện được cọc đá khắc năm chữ Hán “Vĩnh Lăng tây thạch  kiệt” là mốc giới hạn địa lý về phía tây Vĩnh Lăng và có lẽ sẽ còn các điểm mốc danh giới khác. Từ hòn đá này vào trong là khu cấm địa (nội thạch  kiệt thử giai cấm địa) từ hòn đá mốc này trở ra là khu vực dân được canh tác (ngoại thạch kiệt giữ dân canh triều). Xã hội trước kia đã có quy chế chặt chẽ bảo vệ khu điện miếu Lam Kinh. Việc phát hiện ra hòn đá cọc mốc giới hạn khu điện miếu cho thấy mặt bằng khu lăng Lê Lợi tới gần nửa cây số vuông, lẽ nào chỉ có ngôi mộ, hai dãy tượng người và thú. Có thể xung quanh mộ còn nhiều công trình  khác mà thời gian đã xoá nhoà, vùi sâu trong lòng đất?

– Bia Vĩnh Lăng là tài liệu “gốc” nói về Lê Lợi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Bia cao 2,8m x rộng 1,92m x dày 0,27m văn bia do Nguyễn Trãi soạn vào tháng 10 năm Thuận Thiên thứ 6, tức tháng 11 năm 1433. Bia được đặt trên lưng một con rùa cao 0,80m, dài 3,58m, rộng bằng chiều rộng lưng rùa. Rùa và bia là hai khối đá nguyên.

 – Lăng Lê Thánh Tông (Chiêu Lăng), nằm ở bên trái điện Lam Kinh, cách điện khoảng 1km, trên quả đồi thoai thoải, mang tên gò Đình. Bia mộ Chiêu Lăng còn khá nguyên vẹn, bia cao 2,77m x rộng 1,9m. Người soạn văn bia là Đông các đại học sĩ Thân Nhân Trung, Lễ bộ thượng thư Đàm Văn Lễ và Đông các đại học sĩ Lưu Hưng Hiếu. Bia đặt trên lưng rùa, đây cũng là tấm bia có nhiều chữ nhất trong số bia ở Lam Kinh.

 – Lăng Lê Hiến Tông( Dụ Lăng):  là lăng duy  nhất ở phía tây điện Lam Kinh, cách điện miếu 200m, cách Vĩnh Lăng 65m về phía tây nam. Bia dựng ngày mùng tám tháng chạp năm Cảnh Thống thứ 7, tức ngày 12 tháng 1 năm 1505. Người soạn bia là Nguyễn Nhân Thiếp, Phạm Thịnh, Trình Chí Sâm.

– Lăng Lê Túc Tông (Kính Lăng); ông vua cuối cùng của triều đại Lê sơ. Được đặt mộ xây lăng xa khu trung tâm điện miếu nhất (cách Lam Kinh 3 km thuộc làng giao xá). Lăng bị hư hại gần hết. Bia còn khá nguyên vẹn, dựng ngày 24/1/1505 tức ngày 18 tháng 3 năm Giáp Tý. Người soạn văn bia là Đàm Văn Lễ, Nguyễn Nhân Thiếp, Phạn Thịnh và Trình Chí Sâm. Mặt bia quay hướng nam. Phía sau bia cách 200m là núi Đức Trai.
– Lăng hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao  (còn gọi là lăng Quốc Mẫu) bị hư hại nhiều phần mộ và các con giống đá. Bia và rùa đội bia còn khá tốt, kích thước bia to xấp xỉ bia Lê Thánh Tông.

Các nhóm tượng nằm trong năm ngôi mộ vua và hoàng hậu là những tác phẩm chạm khắc giữ vị trí quan trọng trong khu lăng mộ, mang ý nghĩa linh thiêng, canh gác lăng mộ và hầu hạ linh hồn người đã chết. Ở cả năm lăng mộ hiện còn, các tác phẩm có quy ước thống nhất thứ tự như nhau: (tính từ phía trong mộ ra) tượng quan hầu ở tư thế đứng, pho bên trái chắp tay, áo thụng đội mũ, chân đi hài  dáng vẻ quan văn, cung kính, lặng lẽ. Tượng bên phải thể hiện quan võ trong tư thế cung kính chắp tay.

Sát cạnh tượng hai quan hầu là tượng lân với dáng khoẻ, đầu to, bờm và tóc bồng, bốn chân mập, vây sống lưng như vây rồng.
Đôi tượng thứ hai là tê giác, là con vật hiếm trong nghệ thuật chạm khắc cổ, đầu con vật có chiếc sừng nhọn, nhìn toàn thân con vật hơi nặng nề, cạnh tượng tê giác là tượng đôi ngựa, chạm khắc đơn giản không tả chi tiết, mang tính dân gian nhiều hơn, đôi tượng ngoài cùng là hổ, trong tư thế ngồi: Chúa sơn lâm được gia công tỷ mỷ cổ rụt và có nét đẹp đột ngột. Nhìn chung các tượng người và thú ở cả năm lăng mộ có kích thước nhỏ, tuy có chênh lệch chút ít về kích thước. Chúng được tạo tác với quan niệm về các tầng thế giới sống – chết của người đương thời, khác xa quan niệm thời sau. Năm tấm bia đá đứng trên lưng năm con rùa có kích thước sấp xỉ nhau, cả năm tấm bia đều cao to đồ sộ. Chất liệu bia và rùa làm bằng loạt đá màu xanh đen mịn. Tạo dáng rùa ở Lam Kinh khá đồng nhất, điển hình cho giai đoạn nghệ thuật thời Lê sơ; Đầu rùa to mập, ngẩng cao, mõm hơi ngắn, có hai răng, mắt lồi to, chân ngắn, có năm móng, có hai đường viền nổi quanh mai.
Các hình trang trí quanh riềm bia ở  Lam Kinh chủ yếu là rồng, mây lửa, hoa lá và hoa văn sóng nước, tuy răng phong cách con rồng từ bia Vĩnh Lăng đến bia Kính Lăng có sự chuyển biến rõ rệt từ rồng thời trần đến rồng ảnh hưởng thời Minh. Toàn bộ đồ án bia, rùa và những mô típ trang trí trên đó biểu tượng tư tưởng triết lý về mối quan hệ giữa trời – đất – vua, về sự giao thoa đối đãi âm – dương. Đó là quan  niệm về vũ trụ của người Việt thời đó.Lam Kinh đã chịu sự tác động mạnh mẽ của hơn 560 năm qua, với bao biến động “vật đổi sao dời”. Năm 1994 Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phê duyệt đề án quy hoạch tôn tạo Lam Kinh với cách nhìn nhận toàn diện về khu di tích quan trọng này. Thời gian ngắn ngủi trong năm, sáu năm lại đây, với sự tận tuỵ, tỷ mỷ của các cán bộ khoa học, sự quan tâm của các nhà lãnh đạo quản lý, khu Lam Kinh đang dần từng bước được khảo sát, nghiên cứu, tôn tạo. Những mái cong của các nhà che bia ẩn hiện trong rừng cây xanh, đền thờ vua Lê Thái Tổ, đền thờ Vị khai quốc công thần Lê Lai (ở làng Tép, xã Tiên Thọ, Ngọc Lặc) được xây dựng với dáng vẻ cổ kính, linh thiêng, đã đón tiếp hàng vạn lượt khách hành hương từ khắp mọi miền về tưởng niệm trong ngày giỗ Lê Thái Tổ, làm thoả lòng người mong đợi. Ngay từ trung tâm Lam Kinh một nhà trưng bày Bảo tàng nhằm lưu giữ lại những hiện vật giá trị về một Lam Sơn, một Lam Kinh huy hoàng đã từng tồn tại qua nhiều thế kỷ trong lịch sử, để giới thiệu với khách trong nước và quốc tế!

Lam Kinh đang từng bước được trả lại hình ảnh nó vốn có, qua các đợt nghiên cứu, trùng tu.

Theo ý kiến một số nhà nghiên cứu, khách du lịch nghiên cứu hay du lịch vãn cảnh đến Lam Kinh không chỉ tìm hiểu về các công trình kiến trúc điêu khắc nơi đây, mà còn có điều kiện hiểu biết về một không gian văn hoá, về cả chiều rộng và bề sâu. Một khu vực rộng lớn của miền tây huyện Thọ Xuân bao gồm các xã: Xuân Lam, Xuân Thiên và sang phần đất cận kề là huyện Ngọc Lặc còn ẩn chứa cả kho tàng văn hoá vật thể và phi vật thể – sản phẩm của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, của một Tây Kinh – Lam Kinh trong  Nhà nước Đại Việt thời Lê sơ.

     Đến Lam Sơn – Lam Kinh ta còn hiểu được sự giao thoa của văn hoá Việt Mường còn lại đến ngày nay qua cách thức mộ táng, qua truyền thuyết, dã sử, bi ký, gia phả và tập tục nơi đây. Đây chính là cái nền để làm nên một Lam Sơn lịch sử, một Lam Kinh với:
  “Miếu mạo công thần xen mái cỏ
Lăng phần liệt thánh lẫn cây ngàn”

                                                        (Ngô Thì Sĩ)

Về Sầm Sơn Thanh Hóa, thăm di tích lịch sử, nghiên cứu các công trình cổ xưa, khách du lịch đừng quên thưởng thức đặc sản ngon gắn với vùng biển Sầm Sơn Thanh Hóa.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *